Nhập môn tư duy phức hợp

Nhập môn tư duy phức hợp

No ratings yet
2009 · Vietnamese · Paperback
Add To Shelf

Rate this book


Export Book Journal

Description

LỜI GIỚI THIỆU
TÍNH TẤT YẾU CỦA TƯ DUY PHỨC HỢP

Phạm Khiêm Ích

Tư duy phức hợp (pensée complexe), hay là tư duy về tính phức hợp (penser la complexité) gắn liền với tên tuổi của Edgar Morin và Hiệp hội do ông sáng lập (Hiệp hội Tư duy Phức hợp – APC, Paris). Ông đã dày công nghiên cứu tư duy phức hợp trong nhiều tác phẩm, đặc biệt là trong cuốn sách được giới thiệu ở đây và trong bộ Phương pháp (La Méthode, gồm 6 tập) – tác phẩm chủ yếu của Edgar Morin. “Phương pháp” mà ông nói tới chính là phương pháp tiếp cận tính phức hợp, phương pháp giúp chúng ta có khả năng tư duy về tính phức hợp.

Tư duy phức hợp là tất yếu trong thời đại ngày nay. Một mặt, tư duy đơn giản hóa ngày càng bộc lộ những bất cập, những hạn chế và sai lầm của nó, khiến cho con người bất lực không nhận ra được tính phức hợp của thực tại, do đó dẫn tới “trí tuệ mù lòa”.

Mặt khác, vào cuối thế kỉ XX, có khả năng và trên thực tế một phương thức tư duy khác đủ mạnh để vượt qua sự thách thức của thực tại, đối thoại và thương thuyết với nó, đã hình thành. Edgar Morin viế “Bệnh lý hiện đại của tâm trí nằm ở việc siêu đơn giản hóa đang che kín tính phức hợp của thực tại… Chỉ duy có tư duy phức hợp mới khai hóa được tri thức của chúng ta mà thôi.”

Là “cha đẻ của tư duy phức hợp”, Edgar Morin đã kể lại quá trình hình thành tư duy phức hợp từ cuối những năm 1960, dưới sự tác động của lý thuyết thông tin, điều khiển học, lý thuyết hệ thống và lý thuyết tự-tổ chức như thế nào. Để xác lập cơ sở vững chắc cho tư duy phức hợp, ông đã tập trung mọi nỗ lực vào việc “triển khai một lý thuyết, một logic, một tri thức luận về tính phức hợp để có thể nhận biết con người”. Mục tiêu trung tâm của tư duy phức hợp là nhận biết con người – một siêu phức hợp của tiến hóa vũ trụ.

Trong sách, tác giả làm nổi bật ba vấn đề cốt yế

1. Quan niệm về tính phức hợp

Tính phức hợp, hay cái phức hợp (la complexité, le complexus) được hiểu như là những gì liên kết lại với nhau, đan dệt cùng nhau. Tính phức hợp liên quan đến khối lượng khổng lồ những tương tác giữa các bộ phận cấu thành dị biệt, gắn bó hữu cơ với nhau, tạo nên “tấm dệt chung” (tissu commun) không thể phân cách và quy giản được. Bộ não người là một siêu phức hợp, gồm hơn 10 tỷ tế bào. Mọi hệ thống tự-tổ chức, kể cả những tổ chức đơn giản nhất cũng đều được kết hợp bởi một số lượng rất lớn các đơn vị và tương tác của chúng, lớn đến mức thách đố khả năng tính toán của chúng ta.

Hãy nhìn tấm tranh thảm. Nó được dệt bởi những sợi lanh, tơ, bông, len, màu sắc đủ loại. Muốn hiểu được tấm thảm này rất cần hiểu biết các định luật và nguyên tắc liên quan đến mỗi loại sợi. Nhưng tổng cộng mọi tri thức về từng loại sợi vẫn không đủ để nhận thức được chất lượng và đặc tính của tấm dệt. Ở đây, các sợi không phải được bố trí ngẫu nhiên mà được tổ chức theo một phác thảo, một tổng thể thống nhất mà từng bộ phận phải hướng vào cái tổng thể. Giữa bức tranh và người sản xuất, doanh nghiệp, có quan hệ hữu cơ. Khi sản xuất hàng hóa, doanh nghiệp đồng thời tự sản xuất bản thân mình. Đấy là thực chất của tính phức hợp.

Có hai cách hiểu không đúng về tính phức hợ

Một là, cho rằng tính phức hợp dẫn tới việc loại bỏ tính đơn giản hóa. Thật ra, làm như vậy chỉ dẫn tới sự đơn giản hóa khác mà thôi. Hơn nữa, tư duy đơn giản hóa đã từng nuôi dưỡng những bước tiến lớn lao của khoa học phương Tây từ thế kỉ XVII đến cuối thế kỉ XIX. Bởi vậy, việc đơn giản hóa là cần thiết, cố nhiên phải tương đối hóa nó. Tư duy phức hợp tìm cách tích hợp các phương thức tư duy đơn giản hóa, nhưng luôn khước từ những hệ quả mang tính cắt xén, quy giản, phiến diện, che khuất tính phức hợp của thực tại.

Hai là, đồng nhất tính phức hợp với tính toàn vẹn (complétude). Thật ra tri thức toàn vẹn là không thể có được. Cần chấp nhận nguyên lý bất toàn và bất định của tri thức. Chấp nhận tính phức hợp cũng là chấp nhận mâu thuẫn. Tư duy phức hợp mong muốn đạt đến một tri thức đa chiều, chú trọng liên kết tri thức, kết nối cái một với cái nhiều, thống nhất trong đa dạng (unitas multiplex).

2. Tri thức luận về tính phức hợp

Sự hình thành và phát triển tư duy phức hợp đòi hỏi phải phát triển tri thức luận phức hợp (épistémologie complexe), hay tri thức luận về tính phức hợp (épistémologie de la complexité). Tri thức luận thường được định nghĩa như là sự khảo sát triết học về tri thức con người nói chung và tri thức khoa học nói riêng. Vì vậy, tri thức luận là “lĩnh vực giáp ranh” giữa triết học với khoa học.

Trong cuộc tọa đàm giữa Edgar Morin với bảy vị giáo sư Bồ Đào Nha thuộc các bộ môn khác nhau (triết học, vật lý học, sinh học, sử học, tâm lý học xã hội, văn học) người ta hỏ ông là ai mà lại không có tên trong danh sách các nhà triết học, cũng không đích thực là nhà khoa học? Edgar Morin trả lờ bản thân tôi cần đảm đương vị trí trung gian giữa khoa học và triết học, không đứng hẳn một bên nào, nhưng đi từ bên này sang bên kia, nỗ lực thiết lập một hoạt động giao lưu cho tôi, ở tôi và do tôi. Tôi hoàn toàn đứng ngo...

Book Details

Format Paperback
Pages 212 pages
Language Vietnamese
Published Jun 1, 2009
Publisher NXB Tri Thức
Add To Shelf

Rate this book


Export Book Journal